foto1
foto1
foto1
foto1
foto1

(0294)3855246 - 232
lrc@tvu.edu.vn
Liên hệ:



Tác giả: Thạch Sâm Nang. PGS. TS. Phan An (người hướng dẫn khoa học).

Trường Đại học Trà Vinh. Năm: 2015.

Mô tả: 241Tr. Kích thước: 30cm. Số định danh: 390.0959786 / N106.

Tóm tắt:

Văn hóa Khmer là một bộ phận cấu thành văn hóa của cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam. Mỗi dân tộc anh em đó đều có những giá trị văn hóa đặc sắc, đã góp phần tạo nên nền văn hóa Việt Nam – một nền văn hóa thống nhất trong đa dạng tôn giáo. Tôn giáo là nhu cầu của một bộ phận nhân dân. Những sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo, lễ hội lành mạnh của dân tộc đều được các nhà chùa, các nhà sư mà quan trọng hơn, là vai trò sư cả là người có trách nhiệm điều hành mọi hoạt động ở trong chùa, kể cả đời sống của các vị sư, duy trì giáo luật, các tín ngưỡng lễ hội của dân tộc.

So với các dân tộc hiện đang cư trú ở trong huyện Cầu Kè thì dân tộc Khmer là dân tộc có mặt ở vùng này khá sớm. Từ khi người Kinh, người Hoa đến địa bàn này cư trú, thì các dân tộc cộng cư ở đây đã cùng nhau gắn bó trong suốt quá trình khai khẩn biến vùng đất hoang sình lầy, ngập mặn trở thành một vùng đồng bằng trù phú. Đồng thời các dân tộc đã đoàn kết chặt chẽ trong cuộc đấu tranh chống phong kiến bóc lột và thực dân đế quốc xâm lược. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu sẽ góp vào việc thực hiện chính sách dân tộc chính sách của Đảng, Nhà nước đối với dân tộc Khmer trước hết là ở Cầu Kè. Để có được nhận thức đúng đắn, đầy đủ về dân tộc Khmer và văn hóa Khmer cũng như so với mặt bằng chung của cả nước, thông qua đó nâng cao ý thức và năng lực thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước nhằm củng cố sự đoàn kết giữa các dân tộc cùng sinh sống trên địa bàn, góp phần củng cố khối đại đoàn kết dân tộc ở nước ta, chống lại những hoạt động xuyên tạc phá hoại của kẻ thù...

Với vai của trò sư cả đối với hoạt Phật giáo có một vị trí quan trọng. Trong những năm qua tình hình tôn giáo, tín ngưỡng trên địa bàn huyện Cầu Kè. Tôn giáo đã có những đóng góp tích cực cho nền văn hoá của dân tộc góp phần tạo nên bản sắc văn hoá độc đáo của dân tộc Việt Nam và ngay tại huyện Cầu Kè, Trà Vinh với những lý do đó tôi chọn đề tài làm đề tài “ Vai trò của sư cả đối với đời sống văn hóa của người Khmer ở huyện Cầu Kè tỉnh Trà Vinh” làm đề tài luận văn của mình.

 

Tác giả: Thạch Chane Vitu. PGS. TS. Phạm Tiết Khánh (người hướng dẫn khoa học).

Trường Đại học Trà Vinh. Năm: 2015.

Mô tả: 241Tr. Kích thước: 30cm. Số định danh: 792.09597/ V314. Vị trí: Phòng Tự nghiên cứu.

Tóm tắt:

Dù Kê ra đời có sự tiếp biến giữa các loại hình sân khấu Nam Bộ như sân khấu Rô băm, sân khấu Dù Kê,Sân khấu Hát Tiều, Cải Lương . Kịch bản sân khấu Dù Kê là một thể tài chiếm vị trí quan trọng trong quần chúng xem nghệ thuật. Do đó, kịch bản sẽ mang một hình thức biểu diễn để chuyển tải, tuyên truyền sâu rộng, góp phần giữ gìn, phát huy văn học dân gian. Bản thân chọn đề tài nghiên cứu “Kịch bản sân khấu Dù Kê từ văn học dân gian Khmer”.

Chương 1: Sự hình thành từ đầu thế kỷ XIX đến 1930 bắt đầu phát triển và gây nhiều ấn tượng, chiếm vị trí trong quần chúng Việt, Khmer, Hoa từ năm 1934, kể cả nước bạn Campuchia. Dù kê có sự tiếp biến giữa các loại hình sân khấu ở Nam Bộ như về lối diễn, trang phục, ngôn từ (sử dụng tiếng Việt, Khmer, Hoa, Pháp), bài hát, và bài nhạc môhôry ở Campuchia được bổ sung.

Giới thiệu khái quát về văn hóa tộc người Khmer ở Nam Bộ, để làm rõ về sự ảnh hưởng về các loại hình nghệ thuật sân khấu và kịch bản truyện cổ. Song đó, tộc người Khmer ở Campuchia và Nam Bộ - Việt Nam có chung nền văn học dân gian rất sâu đậm qua ba giai đoạn lịch sử. Từ văn học dân gian mà sân khấu Dù Kê đã chuyển tải ngữ văn dân gian (truyện cổ tích) và nghệ thuật dân gian (trang trí, hội họa, âm nhạc). Các loại hình nghệ thuật là những yếu tố hỗ trợ cho sân khấu Dù Kê thành một chỉnh thể nguyên hợp, là loại hình đặc trưng của người Khmer Nam Bộ.

Chương 2: Kịch bản của các đoàn nghệ thuật ở tỉnh Sóc Trăng và tỉnh Trà Vinh đã phân loại, tóm tắt nội dung và phân tích giá trị của kịch bản từ truyện cổ của người Khmer. Phân tích, so sánh với một số kịch bản vay mượn từ kịch bản truyện cổ của người Việt, truyện cổ của nước ngoài và sử thi Ramyana của Ấn độ.

Từ nội dung kịch bản truyện cổ được chia thành bốn nội dung: Đề cao tinh thần nhân đạo và niềm tin tôn giáo; Phản ánh những xung đột gay gắt trong các mối quan hệ xã hội; Ca ngợi cái đẹp, cái thiện; Phê phán cái xấu, cái ác.

Về giá trị văn hóa: Văn hóa giải trí mang nét đặc trưng xã hội nông nghiệp, qua những con người nông dân sau những ngày lao động cực nhọc, luôn tìm đến sinh hoạt tinh thần gắn liền với tín ngưỡng tôn giáo mà họtôn thờ. Nghệ thuật biểu diễn được tổ chức trình diễn với loại hình sân khấu Rô băm, ca hát cộng đồng (âm nhạc, dân ca, àday) và sân khấu Dù Kê đáp ứng nhu cầu giải trí mạnh mẽ hơn.

Văn hóa nhận thức: Sự dung hợp văn hóa tộc người, sự dung hòa về tín ngưỡng tôn giáo và sự tích hợp các loại hình nghệ thuật biểu diễn truyền thống: ca – múa – nhạc – kịch trong diễn xướng kịch bản truyện cổ. Các yếu tố đã cho thấy sự đoàn kết ba dân tộc Việt – Khmer – Hoa qua quá trình cộng cư, giao lưu văn hóa, phong tục, tôn giáo tâm linh tại vùng đất Nam Bộ và sự dung hòa về tín ngưỡng tôn giáo đã trở thành cái chung của cộng đồng tộc người ở Nam Bộ.

Sân khấu Dù Kê bao giờ hết nó chứa đựng giá trị giáo dục cao, cái hư cấu nhưng lại rất hiện thực, lòng nhân đạo, cao cả của con người. Vừa mang đậm tôn giáo, vừa khơi dậy giá trị đạo đức xã hội, và cái xấu được phơi bày, sáng tỏ.

Chương 3: Từ nội dung và giá trị nghệ thuật trong kịch bản truyện cổ, khảo sát thực trạng về nhu cầu thưởng thức sân khấu Dù Kê cho thấy khán giả thích xem. Dù Kê là sản phẩm của người dân, là nhu cầu giải trí trong văn hóa tinh thần.

Một số giải pháp tổ chức trại sáng tác kịch bản, từ tác phẩm tham dự trại sáng tác, có những giải pháp cụ thể về Hội thi sáng tác kịch bản sân khấu Dù Kê, mang ý nghĩa về sự tôn vinh bản sắc văn hóa dân tộc, văn học dân gian Khmer.

Giải pháp để bảo tồn loại hình này, chủ yếu là kết hợp lập đề án đào tạo các lớp học về vũ đạo, âm nhạc Dù Kê để phát huy cho thế hệ trẻ luôn gần gũi với loại hình sân khấu này. Để phát huy hơn nữa, xây dựng cơ sở vật chất là rất cần thiết và Dự án Nhà hát thì mới đủ cơ sở pháp lý để thực hiện việc bảo tồn và gìn giữ. Và Nhà hát trở thành một hoạt động nghệ thuật tổng hợp, là nhu cầu thiết yếu của người Khmer.

 

Tác giả: Nguyễn Xuân Nghiêm. PGS. TS. Phan An (người hướng dẫn khoa học).

Trường Đại học Trà Vinh. Năm: 2015.

Mô tả: 147Tr. Kích thước: 30cm. Số định danh:

Tóm tắt:

Từ khi Việt Nam ta mở cửa hội nhập quốc tế thì vấn đề phụ nữ Việt Nam kết hôn với người nước ngoài nói chung, là một hiện tượng bình thường, phù hợp với qui luật tự nhiên của xã hội, pháp luật Việt Nam không hề ngăn cấm. Nhưng vấn đề đặt ra là trong những năm gần đây, tình trạng phụ nữ kết hôn với người nước ngoài là vấn đề gây bức xúc trong đời sống xã hội, nhiều cô gái Việt Nam khi về nhà chồng bị hành hạ, ngược đãi do bất đồng ngôn ngữ, văn hóa... và sau đó trở về quê hương đã kéo theo hệ quả là những đứa con lai về Việt Nam với mẹ vướng phải các thủ tục pháp lý liên quan đến Luật cư trú, hộ khẩu và quốc tịch cũng như quyền lợi trong học hành, chăm sóc sức khỏe...

Chúng ta không thể phủ nhận sự thật là hôn nhân có yếu tố nước ngoài là kết quả của toàn cầu hóa trong lĩnh vực kinh tế trên thế giới. Hiện nay, chúng ta nhìn nhận và xem hôn nhân có yếu tố nước ngoài là điều rất tựnhiên và bình thường và toàn cầu hóa theo dòng chảy kinh tế. Như vậy , việc phụ nữ Việt Nam nói chung, phụ nữ huyện Bình Tân quyết định đi đến hôn nhân với người Đài Loan, người Hàn Quốcđều xuất thân từ những gia đình ở vùng sâu, vùng xa, cuộc sống còn nhiều khó khăn,không có công việc ổn định, chủ yếu sống dựa vào gia đình, trình độ học vấn thấp, không có điều kiện tiếp cận thông tin, càng không am hiểu về pháp luật. Do đó họ mong muốn kết hôn với người nước ngoài để có cuộc sống sung túc hơn.

Từ góc nhìn văn hóa, có thể thấy rằng những người kết hôn có yếu tố nước ngoài phải đối mặt với những vấn đề về tiếp nhận văn hóa và thích ứng văn hóa Đài Loan, Hàn Quốc. Quá trình tiếp nhận và thích ứng văn hóa là một quá trình lâu dài và cần sự nỗ lực của cá nhân cũng như sự giúp đỡ của cộng đồng. Nếu trước đây các cuộc hôn nhân chỉ diễn ra trong phạm vi quốc gia thì đến đầu thế kỷ 21 những cuộc hôn nhân đã chuyển hướng ra nước ngoài và gia tăng nhanh chóng. Qua thực tế cho thấy, việc phụ nữ huyện Bình Tân kết hôn có yếu tố nước ngoài đã có những đóng góp đáng kể cho kinh tế của gia đình và xã hội, và các cuộc kết hôn này cũng cho ta thấy rõ nét các trường hợp hôn nhân có kết quả tại nước sở tại Đài Loan, Hàn Quốc đã tạo được mối quan hệ ban giao của Việt Nam, Hàn Quốc, Đài Loan… Tuy nhiên, ở huyện Bình Tân vẫn còn một số cuộc hôn nhân chưa theo như ý muốn và hậu quả là thất bại trở về quê hương, và đã gây bức xúc dư luận địa phương, làm ảnh hưởng không nhỏ đến an ninh trật tự.

Có thể nói, ngoài những lý do nêu trên phụ nữ huyện Bình Tân kết hôn với người nước ngoài còn có những yếu tố khác như: kết hôn để được bảo lãnh ra nước ngoài, kết hôn để được nhập quốc tịch nước ngoài, kết hôn để được bằng chị bằng em… các nguyên nhân này tuy không chủ yếu nhưng lại là những nguyên nhân có thực đang tồn tại ở huyện Bình Tân. Nghị định 68/2002/NĐ-CP và Nghị định 69/2006/NĐ-CP cho phép từ chối đăng ký kết hôn, nhưng Bộ Tư pháp chưa có văn bản hướng dẫn xác định các căn cứ cụ thể làm cơ sở cho việc từ chối, cũng như hướng dẫn hoạt động cho trung tâm hỗ trợ kết hôn trong việc thực hiện chức năng tư vấn, môi giới hôn nhân. Vấn đề cấp bách hiện nay là Ngành tư pháp cần phải phối hợp với Hội Liên hiệp Phụ nữ các cấp và một số cơ quan hữu quan tham mưu hoàn chỉnh các quy định hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài để bộ ngành Trung ương trình Chính phủ và Quốc Hội phê duyệt. Cần tăng cường hơn nữa việc hướng dẫn, chỉ đạo, kiểm tra, thanh tra các địa phương trong việc thụ lý, giải quyết hồ sơ đăng ký kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài; kịp thời chấn chỉnh những lệch lạc, tiêu cực trong công tác này. Các ngành các cấp phải chú trọng công tác giáo dục, tuyên truyền nâng cao nhận thức của chị em phụ nữ là một nhiệm vụ hết sức quan trọng. Đặc biệt, phải quan tâm đến việc phát triển kinh tế, tạo công ăn việc làm, đảm bảo cuộc sống cho những phụ nữ còn khó khăn, những phụ nữ vùng nông thôn, vùng dân tộc thiểu số và những người bị buôn bán hoặc do hôn nhân bất hạnh trở về quê hương làm ăn sinh sống. Việc tuyên truyền, giáo dục, nhân rộng các gương điển hình, tiên tiến, những người biết vượt lên số phận, hay tổ chức những cuộc tọa đàm, trao đổi trực tiếp với những người đã từng là nạn nhân của buôn bán, bất hạnh để răng đe mà đề tài này đã đề cặp mà theo tôi đây là những việc nên làm ngay.

Register to read more ...

Tác giả: Nguyễn Văn Thanh Thảo. PGS. TS. Huỳnh Quốc Thắng (người hướng dẫn khoa học).

Trường Đại học Trà Vinh. Năm: 2015.

Mô tả: 148Tr. Kích thước: 30cm. Số định danh:

Tóm tắt:

Luận văn “Nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động các thiết chế nhà văn hóa xã ở huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long” được tiến hành từ tháng 4 năm 2014. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu được xác định là các thiết chế văn hóa xã mà trọng tâm và đi sâu là chất lượng và hiệu quả hoạt động của các thiết chế nhà văn hóa xã tại huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long.

Quá trình thực hiện được tác giả chia ra các giai đoạn cụ thể:

1. Hoàn thành đề cương luận văn theo nội dung đề tài.

2. Tiến hành điều tra, khảo sát nắm tư liệu, thông tin về chất lượng và hiệu quả, hoạt động các thiết chế nhà văn hóa trên địa bàn huyện Vũng Liêm và các đơn vị khác trong huyện. Song song đó là việc phát phiếu điều tra xã hội học về hoạt động các thiết chế văn hóa trongphạm vi nghiên cứu luận văn.

3. Hoàn thiện nội dung luận văn theo từng công việc của đề cương với kết quả nghiên cứu, thu thập tài liệu và các minh chứng liên quan đến nội dung luận văn có tham khảo ý kiến người hướng dẫn khoa học.

Nội dung luận văn thể hiện mong muốn là ngày càng nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động các thiết chế nhà văn hóa xã trên địa bàn huyện Vũng Liêm trong quá trình đô thị hóa và hội nhập quốc tế. Chúng ta cần nhìn nhận thực tế về chất lượng hoạt động của nhà văn hóa với những thống kê tổng quát các số liệu và phương thức tổ chức hoạt động để thấy được những hạn chế yếu kém và những điểm bất cập trong thực hiện các chủ trương, đường lối khi được tổ chức thực hiện, nhất là trong lĩnh vực văn hóa. Từ đó tác giả luận văn đưa ra mộtsố quan điểm, định hướng chung trên tinh thần các chỉ thị, nghị quyết của Trung ương, tỉnh, huyện và cơ sở để xây dựng tầm chiến lược về mô hình hoạt động các thiết chế và tạo dựng “thương hiệu văn hóa” áp dụng vào thực tế hoạt động của các nhà văn hóa xã.

Hơn nữa, hoạt động của các nhà văn hóa xã cần có sự thiết chế hóa các nội dung hoạt động để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt đời sống văn hóa tinh thần của người dân trong điều kiện tối thiểu. Cần phát huy vai trò của văn hóa và ảnh hưởng của nó đến việc phát triển kinh tế và phải đặt việc phát triển kinh tế trong sự quản lý của văn hóa để giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc theo tinh thần của Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) và định hướng trong thời gian tới theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 9 (khóa XI) của Đảng cộng sản Việt Nam. Bên cạnh đó, quá trình giao lưu và hội nhập sẽ dẫn đến sự hình thành cộng đồng chung trong khu vực, trong đó văn hóa là một trong những nội dung hội nhập mạnh mẽ và quyết liệt nhất, nên việc phát huy nội lực văn hóa của dân tộc và từng địa phương là vấn đề quan trọng, cần sự quan tâm, đầu tư sâu sát từ các cấp ủy Đảng để có những chiến lược phát triển văn hóa nói chung sát yêu cầu thực tế của từng địa phương, đơn vị.

Trong bối cảnh kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và sựnghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, những tiềm năng về con người huyện Vũng Liêm đang đứng trước những thuận lợi cơ bản cũng như những thách thức. Việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động các thiết chế nhà văn hóa có vị trí đặc biệt quan trọng để góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu mà về phát triển văn hóa –xã hội trên địa bàn huyện.

Register to read more ...

Tác giả: Đặng Thị Nguyên Khang. TS. Nguyễn Xuân Hương (người hướng dẫn khoa học).

Trường Đại học Trà Vinh. Năm: 2015.

Mô tả: 195Tr. Kích thước: 30cm. Số định danh:

Tóm tắt:

Miếu Thiên Hậu của người Hoa ở thành phố Vĩnh Long được xây dựng cách đây 116 năm nhưng vẫn giữ nguyên được các yếu tố gốc. Ngôi miếu mang trong mìnhnhững giá trị văn hoá lịch sử và giá trị kiến trúc nghệ thuật tiêu biểu của cộng đồng người Hoa gốc Quảng Đông ở Vĩnh Long. Đồng thời, miếu cũng đã phô diễn khá rõ nét những sinh hoạt văn hoá tín ngưỡng của cộng đồng, tiêu biểu là các lễ hội đã làm cho miếu Thiên Hậu trở thành một di tích thiêng, đáp ứng được nhu cầu mong muốn được thần linh phù hộ, độ trì của cộng đồng người Hoa ở Vĩnh Long. Người Hoa đến dự lễ để khấn vái, cảm tạ, tỏ lòng biết ơn với Bà Thiên Hậu đã phù hộ tổ tiên họ trên bước đường thiên di đến vùng đất mới và phù hộ cho họ trong cuộc sống.

Trong Luận văn này, tôi tập trung tìm hiểu, khảo tả di tích miếu Thiên Hậu và làm rõ những ý nghĩa, giá trị về văn hóa tộc người, qua đó góp phần phát huy và bảo tồn những giá trị văn hóa đặc sắc củangười Hoa ở Nam Bộ nói chung và tỉnh Vĩnh Long nói riêng. Trong phạm vi đề tài này, tôi tập trung những vấn đề cơ bản đó là:

Tìm hiểu di tích miếu Thiên Hậu thông qua việc khảo tả về trang trí kiến trúc, tượng thờ, đồ thờ, tục thờ Thiên Hậu.

Miêu thuật lễ lệ, lễ hội và các phong tục liên quan đến tục thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu tại miếu Thiên Hậu.

Làm rõ những ý nghĩa và giá trị văn hoá tín ngưỡng tâm linh, qua đó góp phần cung cấp tư liệu khoa học về di tích miếu Thiên Hậu và sinh hoạt tín ngưỡng tại miếu Thiên Hậu của người Hoa ở thành phố Vĩnh Long.

Để thực hiện đề tài này, tôi đã lựa chọn các phương pháp:khảo sát, điền dã; so sánh và phương pháp tiếp cận liên ngành (dân tộc học, văn hóa học, lịch sử học); phương pháp phỏng vấn, phỏng vấn sâu để có kết luận chính xác hơn.

Về bố cục của luận văn, ngoài phần mở đầu, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của luận văn được chia thành ba chương:

Chương 1: Giới thiệu khái quát về thành phố Vĩnh Long và cộng đồng người Hoa ở thành phố Vĩnh Long. Làm rõ sự hình thành cộng đồng người Hoa; đặc trưng về văn hóa - tín ngưỡng; tục thờ Thiên Hậu thông qua việc tìm hiểu quan niệm niềm tin, truyền thuyết, thần tích của Thiên Hậu Thánh Mẫu và thiết chế thờ phụng Thiên Hậu Thánh Mẫu tại thành phố Vĩnh Long.

Chương 2: Đề cập đến đặc điểm miếu Thiên Hậu. Chương này, tôi cố gắng khảo tả trang trí kiến trúc miếu, điện thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu và các nhân vật phối thờ cùng với các di vật trong miếu Thiên Hậu; miêu thuật những lễ lệ, lễ hội và các phong tục liên quan. Đồng thời, bằng phương pháp so sánh, tôi đã tìm hiểu những nét tương đồng và khác biệt của di tích miếu Thiên Hậu ở thành phố Vĩnh Long so với các cơ sở thờ tự Thiên Hậu ở các miền của đất nước.

Chương 3: Phát huy giá trị di tích miếu Thiên Hậu hiện nay thông qua việc làm rõ vị thế miếu Thiên Hậu trong đời sống văn hóa cộng đồng người Hoa Vĩnh Long; tìm hiểu những giá trị văn hoá của di tích miếu Thiên Hậu và sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng tại miếu. Đánh giá hiện trạng di tích miếu Thiên Hậu, đồng thời đưa ra một số khuyến nghị để bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa tộc người.

Cuối cùng, trong phần kết luận, tôi khái quát lại những nội dung chính của luận văn, đồng thời khẳng định miếu Thiên Hậu là cơ sở tín ngưỡng rất quan trọng, có ảnh hưởng to lớn đến đời sống văn hóa tín ngưỡng của cộng đồng người Hoa ở Vĩnh Long.

Register to read more ...


Trung tâm Học liệu Trường Đại học Trà Vinh.

Số 126 - Nguyễn Thiện Thành, Khóm 4, phường 5, Thành phố Trà Vinh - Tỉnh Trà Vinh.

Điện thoại: (+84).294.3855246 số nội bộ: 232. Fax: (+84).294.3855217. Email: lrc@tvu.edu.vn

Giấy phép trang Thông tin điện tử số 02/GP-TTĐT cấp ngày 18/12/2018, Sở TT&TT tỉnh Trà Vinh

Mã nguồn: Joomla - Diablodesign.